Trong các hình sau:

Các hình có thể là hình biểu diễn của một hình tứ diện là:
Hình (III) có thể là hình tứ diện. Vì nếu ta nhìn từ điểm C hướng xuống BD thì B, C, D thẳng hàng.
Hình (IV) có thể là hình tứ diện. Vì nếu điểm C nằm phía trước mặt phẳng (ABD) thì ta có thể nhìn thấy các đường CA,CB,CD, do đó các đường này là nét liền
Một hình chóp có đáy là ngũ giác có số mặt và số cạnh là :
Hình chóp ngũ giác có 5 mặt bên + 1 mặt đáy. 5 cạnh bên và 5 cạnh đáy.

Trong các hình chóp, hình chóp có ít cạnh nhất có số cạnh là bao nhiêu?
Hình tứ diện là hình chóp có số cạnh ít nhất.
Chọn khẳng định sai trong các khẳng định sau?
Hai mặt phẳng có một điểm chung thì chúng có thể trùng nhau. Khi đó, chúng có vô số đường thẳng chung ⇒ B sai.
Cho hình chóp S.ABCD có đáy là hình thang ABCD(AB∥CD). Khẳng định nào sau đây sai?
∙ Hình chóp S.ABCD có 4 mặt bên: (SAB),(SBC),(SCD),(SAD). Do đó A đúng.
∙ S là điểm chung thứ nhất của hai mặt phẳng (SAC) và (SBD).
{O∈AC⊂(SAC)⇒O∈(SAC)O∈BD⊂(SBD)⇒O∈(SBD)⇒O là điểm chung thứ hai của hai mặt phẳng (SAC) và (SBD).
Do đó B đúng.
∙ Tương tự, ta có (SAD)∩(SBC)=SI. Do đó C đúng.
∙ (SAB)∩(SAD)=SA mà SA không phải là đường trung bình của hình thang ABCD. Do đó D sai.
Cho tứ diện ABCD. Gọi G là trọng tâm của tam giácBCD. Giao tuyến của mặt phẳng (ACD) và (GAB)là:
∙ A là điểm chung thứ nhất giữa hai mặt phẳng (ACD) và (GAB).
∙ Ta có:
BG∩CD=N⇒{N∈BG⊂(ABG)⇒N∈(ABG)N∈CD⊂(ACD)⇒N∈(ACD)
⇒N là điểm chung thứ hai giữa hai mặt phẳng (ACD) và (GAB).
là điểm chung thứ hai giữa hai mặt phẳng (ACD) và (GAB).
Vậy (ABG)∩(ACD)=AN.
Cho điểm A không nằm trên mặt phẳng (α) chứa tam giác BCD. Lấy E,F là các điểm lần lượt nằm trên các cạnh AB,AC. Khi EF và BC cắt nhau tại I, thì I không phải là điểm chung của hai mặt phẳng nào sau đây?
Điểm I là giao điểm của EF và BC mà
{BC⊂(BCD)EF⊂(DEF)EF⊂(ABC)EF⊂(AEF)⇒{I∈(BCD)∩(DEF)I∈(BCD)∩(ABC)I∈(BCD)∩(AEF)
Cho tứ diện ABCD. Gọi M,N lần lượt là trung điểm của AC,CD. Giao tuyến của hai mặt phẳng (MBD) và (ABN) là:
∙ B là điểm chung thứ nhất giữa hai mặt phẳng (MBD) và (ABN).
∙ Vì M,N lần lượt là trung điểm của AC,CD nên suy ra AN,DM là hai trung tuyến của tam giác ACD. Gọi G=AN∩DM
⇒{G∈AN⊂(ABN)⇒G∈(ABN)G∈DM⊂(MBD)⇒G∈(MBD)⇒G là điểm chung thứ hai giữa hai mặt phẳng (MBD) và (ABN).
Vậy (ABN)∩(MBD)=BG.
Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình bình hành. Gọi M,N lần lượt là trung điểm AD và BC. Giao tuyến của hai mặt phẳng (SMN) và (SAC) là:
∙ Slà điểm chung thứ nhất giữa hai mặt phẳng (SMN) và (SAC).
∙ Gọi O=AC∩BD là tâm của hình hình hành.
Trong mặt phẳng (ABCD) gọi T=AC∩MN ⇒T≡O
⇒{O∈AC⊂(SAC)⇒O∈(SAC)O∈MN⊂(SMN)⇒O∈(SMN)
⇒O là điểm chung thứ hai giữa hai mặt phẳng (SMN) và (SAC).
Vậy (SMN)∩(SAC)=SO.
Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình bình hành. Gọi I,J lần lượt là trung điểm SA,SB. Khẳng định nào sau đây sai?
∙ Ta có IJ là đường trung bình của tam giác SAB ⇒IJ∥AB∥CD⇒IJ∥CD
⇒IJCD là hình thang. Do đó A đúng.
∙ Ta có {IB⊂(SAB)IB⊂(IBC)⇒(SAB)∩(IBC)=IB. Do đó B đúng.
∙ Ta có {JD⊂(SBD)JD⊂(JBD)⇒(SBD)∩(JBD)=JD. Do đó C đúng.
∙ Trong mặt phẳng (IJCD), gọi M=IC∩JD⇒(IAC)∩(JBD)=MO. Do đó D sai.
Cho hình chóp S.ABCD có đáy là hình thang ABCD(AD∥BC). Gọi M là trung điểm CD. Giao tuyến của hai mặt phẳng (MSB) và (SAC) là:
Gọi I là giao điểm của AC với BM
∙ S là điểm chung thứ nhất giữa hai mặt phẳng (MSB) và (SAC).
∙ Ta có {I∈BM⊂(SBM)⇒I∈(SBM)I∈AC⊂(SAC)⇒I∈(SAC) ⇒I là điểm chung thứ hai giữa hai mặt phẳng (MSB) và (SAC).
Vậy (MSB)∩(SAC)=SI.
Cho 4 điểm không đồng phẳng A,B,C,D. Gọi I,K lần lượt là trung điểm của AD và BC. Giao tuyến của (IBC) và (KAD) là:
Điểm K là trung điểm của BC suy ra K∈(IBC)⇒IK⊂(IBC).
Điểm I là trung điểm của AD suy ra I∈(KAD)⇒IK⊂(KAD).
Vậy giao tuyến của hai mặt phẳng (IBC) và (KAD) là IK.
Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình thang với AB∥CD. Gọi I là giao điểm của AC và BD. Trên cạnh SB lấy điểm M. Tìm giao tuyến của hai mặt phẳng (ADM) và (SAC).
Ta có A là điểm chung thứ nhất của (ADM) và (SAC).
Trong mặt phẳng (SBD), gọi E=SI∩DM.
Ta có:
● E∈SI mà SI⊂(SAC) suy ra E∈(SAC).
● E∈DM mà DM⊂(ADM) suy ra E∈(ADM).
Do đó E là điểm chung thứ hai của (ADM) và (SAC).
Vậy AE là giao tuyến của (ADM) và (SAC).
Cho tứ diện ABCD và điểm M thuộc miền trong của tam giác ACD. Gọi I và J lần lượt là hai điểm trên cạnh BC và BD sao cho IJ không song song với CD. Gọi H,K lần lượt là giao điểm của IJ với CD, của MH và AC. Giao tuyến của hai mặt phẳng (ACD) và (IJM) là:
Trong mặt phẳng (BCD), IJ cắt CD tại H⇒H∈(ACD).
Điểm H∈IJ suy ra bốn điểm M,I,J,H đồng phẳng.
Nên trong mặt phẳng (IJM), MH cắt IJ tại H và MH⊂(IJM).
Mặt khác {M∈(ACD)H∈(ACD)⇒MH⊂(ACD). Vậy (ACD)∩(IJM)=MH.